Nhiễm khuẩn sơ sinh: Phác đồ điều trị được áp dụng khi trẻ mắc bệnh

16:48 | 15/08/2022

Trẻ sơ sinh là đối tượng rất dễ bị nhiễm khuẩn bởi hệ thống miễn dịch chưa phát triển hoàn chỉnh, nhất là trẻ sinh non. Khi trẻ bị nhiễm khuẩn sơ sinh, phác đồ điều trị được áp dụng như thế nào, bài viết dưới đây sẽ chỉ rõ các phương pháp điều trị cụ thể.

Theo ThS.BS. Nguyễn Thị Anh Tiên - Khoa Sơ Sinh (Bệnh viện Nhi Đồng 1, TPHCM), nhiễm khuẩn sơ sinh là tình trạng nhiễm trùng trên trẻ lứa tuổi sơ sinh (từ lúc sinh cho đến 28 ngày tuổi). Điều trị tùy thuộc vào tình trạng nhiễm trùng của trẻ.

Đa số nhiễm trùng sơ sinh cần được điều trị bằng kháng sinh. Nếu nhiễm trùng của trẻ không quá nặng, trẻ sẽ được nằm chung với mẹ và tiêm thuốc hằng ngày. Nếu trẻ không bú được hoặc bú kém, hoặc cần phải thở oxy, trẻ sẽ được điều trị ở phòng chăm sóc sơ sinh đặc biệt (thở oxy, truyền dịch hoặc đặt ống thông dạ dày cho ăn...).

BS Tiên cho biết thêm, thời gian điều trị cũng tùy theo tình trạng bệnh của trẻ và đáp ứng với điều trị. Bác sĩ điều trị sẽ là người giải thích về cách chăm sóc trẻ khi xuất viện và hẹn trẻ đến tái khám.

1. Nguyên nhân gây nhiễm khuẩn sơ sinh

Trẻ sơ sinh có thể bị nhiễm vi khuẩn hoặc virus trong bào thai, lúc sinh, hoặc sau khi sinh. Đa số nhiễm vi khuẩn là do trẻ hít hoặc nuốt phải vi khuẩn sống bình thường trong đường sinh dục của mẹ khi đi qua trong lúc sinh; Sau đó vi khuẩn hoặc virus đi vào phổi hoặc vào máu của bé.

Trẻ sơ sinh cũng có thể bị nhiễm virus. Một số loại virus như Herpes hay thủy đậu có thể gây ra bệnh nặng ở trẻ sơ sinh, nhất là trẻ sinh non. Virus có thể đi vào máu của trẻ sơ sinh khi trẻ còn trong bụng người mẹ bị nhiễm virus này, hoặc nhiễm sau sinh nếu tiếp xúc với người mắc bệnh.

2. Nhận biết dấu hiệu nhiễm trùng sơ sinh

Nhiễm trùng sơ sinh được chia thành 2 nhóm gồm nhiễm trùng sơ sinh sớm (trong 72 giờ sau sinh) và nhiễm trùng sơ sinh muộn xảy ra ở ngày thứ 5 sau sinh.

Triệu chứng nhiễm trùng sơ sinh sớm mà trẻ gặp phải bao gồm:

Hô hấp: Trẻ có dấu hiệu cơ thể xanh tím, thở nhanh, thở rên, rối loạn nhịp thở. Trường hợp nguy hiểm khi trẻ có dấu hiệu ngừng thở đột ngột từng cơn trên 15 giây.

Tiêu hóa: Trẻ bị nhiễm trùng sơ sinh sớm thường gặp một loạt các triệu chứng tiêu hóa như: trướng bụng, bỏ bú, bú kém, ứ dịch dạ dày, tiêu chảy,...

Tim mạch: Da xanh tái, nhịp tim đập nhanh trên 160 lần/phút, lạnh đầu chi, hạ huyết áp,...

Thần kinh: Trẻ gặp tình trạng tăng hoặc giảm trương lực cơ, co giật, giảm phản xạ, tinh thần lơ mơ, dễ bị kích động hoặc hôn mê.

Thực thể: Bệnh nhiễm trùng sơ sinh sớm thường chưa ảnh hưởng rõ ràng đến cân nặng, một số trẻ có thể giảm cân nhiều so với sau sinh. Ngoài ra còn gặp tình trạng rối loạn điều hòa thân nhiệt.

Da và niêm mạc: Xuất huyết dưới da, da tái, phát ban, vàng da sớm, nổi nốt mủ, cứng bì, nổi vân tím...

Huyết học: Kiểm tra trẻ có tình trạng tụ máu dưới da, xuất huyết nhiều, tử ban, gan lách to,...

Dạng nhiễm trùng sơ sinh sớm thường gặp nhất là nhiễm trùng huyết nên các triệu chứng liên quan cũng là phổ biến nhất. Phát hiện càng sớm bệnh thông qua dấu hiệu thì càng có thể can thiệp điều trị hiệu quả, hạn chế biến chứng bệnh nguy hiểm.

Thời gian điều trị nhiễm trùng sơ sinh tùy theo tình trạng bệnh của trẻ và đáp ứng với điều trị.

Thời gian điều trị nhiễm trùng sơ sinh tùy theo tình trạng bệnh của trẻ và đáp ứng với điều trị.

Triệu chứng nhiễm trùng sơ sinh muộn mà trẻ gặp phải bao gồm:

Nhiễm khuẩn sơ sinh muộn là nhiễm trùng xảy ra sau ngày thứ 5 sau sinh. Các dạng lâm sàng chính là nhiễm trùng huyết, viêm màng não, nhiễm trùng tại chỗ (nhiễm trùng tiểu, da, rốn, niêm mạc, viêm khớp xương, viêm ruột hoại tử). Triệu chứng lâm sàng của nhiễm khuẩn sơ sinh muộn:

- Nhiễm trùng huyết: Triệu chứng tương tự như nhiễm khuẩn sơ sinh sớm.

- Viêm màng não:

+ Có thể triệu chứng riêng lẻ, không rõ ràng.

+ Sốt dai dẳng hoặc thân nhiệt không ổn định.

+ Thay đổi tri giác, thay đổi trương lực cơ, co giật, dễ bị kích thích, ngưng thở, khóc thét, thóp phồng

+ Triệu chứng màng não có thể có hoặc không.

+ Thở không đều, rối loạn vận mạch, nôn ói.

-Nhiễm trùng da

+ Nốt mủ bằng đầu đinh ghim, đều nhau, nông, lúc đầu trong sau mủ đục. Mụn khô để lại vảy trắng dễ bong.

+ Nốt phỏng to nhỏ không đều, lúc đầu chứa dịch trong nếu bội nhiễm thì có mủ đục,vỡ để lại nền đỏ, chất dịch trong lan ra xung quanh thành mụn mới.

+ Viêm da bong (bệnh Ritter): lúc đầu là mụn mủ quanh miệng sau lan toàn thân, thượng bì bị nứt bong từng mảng, để lại vết trợt đỏ ướt huyết tương.

+ Toàn thân: nhiễm trùng, nhiễm độc, sốt cao, mất nước. Có thể kèm: viêm phổi, tiêu chảy, nhiễm trùng máu.

- Nhiễm trùng rốn

+ Rốn thường rụng sớm, sưng đỏ, tím bầm, chảy mủ hoặc máu, mùi hôi, sưng tấy xung quanh.

+ Rốn thường rụng muộn, ướt, có mùi hôi, sưng tấy toàn thân.

ـ Có thể: sốt, kém ăn, trướng bụng, rối loạn tiêu hóa.

- Nhiễm trùng tiểu: Thường có vàng da. Cấy nước tiểu có vi trùng.

- Viêm ruột hoại tử: Tiêu phân máu. Triệu chứng tắc ruột, có thể có phản ứng thành bụng.

- Nhiễm trùng niêm mạc:

+ Viêm kết mạc tiếp hợp: trẻ nhắm mắt, nề đỏ mi mắt, tiết dịch hoặc chảy mủ.

+ Nấm miệng: nấm thường ở mặt trên lưỡi, lúc đầu màu trắng như cặn sữa, nấm mọc dày lên, lan rộng khắp lưỡi, mặt trong má xuống họng, nấm ngả màu vàng làm trẻ đau bỏ bú. Có thể gây tiêu chảy, viêm phổi nếu nấm rơi vào đường tiêu hóa và phổi.

3. Các phương pháp được áp dụng điều trị nhiễm trùng sơ sinh

ThS.BS Dương Văn Sỹ (Khoa Nhi - Sơ sinh, Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Hải Phòng) cho biết, nhiễm trùng sơ sinh là khái niệm chỉ các tình trạng bệnh lý nhiễm trùng xảy ra trong thời kỳ sơ sinh, với mầm bệnh mắc phải trước, trong hoặc sau sinh. Điều trị tùy thuộc vào tình trạng nhiễm trùng của trẻ. Đa số nhiễm trùng sơ sinh cần được điều trị bằng kháng sinh, thời gian điều trị cũng tùy theo tình trạng bệnh của trẻ và đáp ứng với điều trị. 

Chăm sóc trẻ sinh non tháng bị suy hấp, rối loạn đông máu, nhiễm khuẩn sơ sinh tại Bệnh viện Bãi Cháy (Quảng Ninh). Ảnh: BVCC

Chăm sóc trẻ sinh non tháng bị suy hấp, rối loạn đông máu, nhiễm khuẩn sơ sinh tại Bệnh viện Bãi Cháy (Quảng Ninh). Ảnh: BVCC

Phác đồ điều trị nhiễm khuẩn sơ sinh

3.1. Kháng sinh chống nhiễm khuẩn

Lựa chọn kháng sinh

Đối với nhiễm trùng sơ sinh sớm: Dùng 2 loại kháng sinh kết hợp: Aminosid và β lactamin. Khi chưa có kết quả kháng sinh đồ có thể cho trẻ dùng Penicilin hoặc Ampicillin phối hợp với Gentamicin hoặc Amikacin.

Nếu người mẹ được sử dụng kháng sinh trước đó mà trẻ nghi ngờ nhiễm vi khuẩn kháng Ampicilin (E.coli, Enterobacter) có thể chọn: Ceftriaxone, Claforan, Imipenem phối hợp Aminosid.

Nếu nghi ngờ do tụ cầu: kết hợp 3 loại kháng sinh: Cephalosporin thế hệ 3 + Vancomycin + Aminosid.

Nếu nghi ngờ trực khuẩn Gram(-): Cephalosporin thế hệ 3 + Imipenem. Đôi khi Quinolon phối hợp Aminoside hoặc Polymyxin.

Nếu nghi ngờ vi khuẩn kỵ khí chọn Metronidazol phối hợp. Sử dụng kháng sinh Cephalosporin thế hệ 3 rộng rãi, kéo dài là một yếu tố nguy cơ nhiễm khuẩn nấm Candida. Nếu trẻ đang dùng kháng sinh kéo dài mà tình trạng lâm sàng xấu đi thì phối hợp kháng sinh chống nấm nhóm Conazol. Khi có kháng sinh đồ thì phải điều chỉnh lại kháng sinh cho phù hợp.

Liều kháng sinh thường dùng

Ampicillin: 75mg -100mg/kg/ngày.

Cefotaxime: 100mg - 200mg/kg/ngày.

Ceftriaxone: 50-100mg/kg/ngày.

Amikacin: 15mg/kg/ngày.

Gentamycine, Kanamycin: 4-5mg/kg/ngày.

Vancomycin: 10mg/kg/ngày.

Thời gian sử dụng kháng sinh

Nhiễm trùng máu: 10 ngày.

Viêm màng não mủ: 14-21 ngày.

Viêm phổi: 7-10 ngày.

Nếu nghi ngờ nhiễm khuẩn máu nhưng cấy máu (-) thì đề nghị sử dụng kháng sinh kết hợp kéo dài > 5 ngày.

Nếu do tụ cầu vàng: thời gian điều trị từ 3-6 tuần. Khi sử dụng nhóm Aminosid có thể gây điếc nên không dùng quá 7 ngày đối với trẻ sơ sinh, ngừng > 48 giờ có thể sử dụng đợt mới.

3.2. Vệ sinh

Rửa tay sạch, sát khuẩn tay nhanh khi chuyển sang tiếp xúc trẻ khác.

Thay quần áo blue hàng ngày, có mũ, khẩu trang, găng tay khi làm thủ thuật.

Thay chăn, ga, gối vô khuẩn, tiệt khuẩn giường, lồng ấp hàng ngày. Lau sàn nhà bằng thuốc sát khuẩn, không được quét sàn.

Hàng tháng có lịch tổng vệ sinh tiệt khuẩn phòng, phương tiện, trang thiết bị.

Nằm phòng riêng tránh tiếp xúc người nhà, chỉ nên thăm theo giờ.

Loại bỏ vi khuẩn:

Với nhiễm trùng da, mụn mủ, rốn, áp xe phải cắt lọc hết tổ chức hoại tử, rửa sạch bằng nước muối sinh lý.

Nếu có khe, hốc nhiều thì phải rửa sạch bằng oxy già, lau khô và dùng thuốc Betadine 2,5% sát trùng tại chỗ.

Chấm xanh Methylen vào nốt mụn phỏng trên da hoặc bôi kem kháng sinh.

3.3 Liệu pháp hỗ trợ

Cân bằng thân nhiệt

Nếu trẻ sốt ≥ 38,5 độ C thì dùng Paracetamol: 10-15mg/kg/1 lần, không quá 4 lần/ngày.

Nếu trẻ bị hạ nhiệt độ < 36,5 độ C: Ủ ấm bằng lồng ấp.

Cân bằng nước, điện giải, toan kiềm

Nuôi dưỡng đường miệng đầy đủ, truyền dịch phối hợp 50-100ml/kg/24 giờ.

Nếu có giảm tưới máu: dùng Dopamin 5-15μg/kg/1 phút để nâng huyết áp.

Chống suy hô hấp cấp

Oxy liệu pháp, thở CPAP, hô hấp hỗ trợ.

Chống rối loạn đông máu

Plasma tươi, truyền yếu tố đông máu, Vitamin K1. Truyền khối tiểu cầu khi tiểu cầu < 50.000/mm3 mà có xuất huyết hoặc tiểu cầu < 30.000/mm3 mặc dù không có xuất huyết.

Thay máu

Thay máu một phần trong trường hợp nhiễm trùng nặng, có tác dụng giảm độc tố và nồng độ vi khuẩn.

Thuốc tăng cường miễn dịch

Truyền Human Immunoglobulin liều 300-500 mg/kg/ngày x 3 ngày: có tác dụng giảm tỷ lệ tử vong trẻ nhiễm trùng.

4. Kế hoạch chăm sóc trẻ nhiễm trùng sơ sinh

4.1. Mục tiêu chăm sóc

Đảm bảo được điều kiện vô khuẩn.

Dinh dưỡng cho trẻ.

Đảm bảo về sự hô hấp.

Ổn định thân nhiệt.

Theo dõi sát thường xuyên để hạn chế các biến chứng có thể xảy ra, đồng thời phát hiện kịp thời các thay đổi của trẻ để có hướng xử lý.

Nhiễm khuẩn ở trẻ sơ sinh là một tình trạng thường xảy ra ở trẻ nhỏ, do đó các mẹ nên hiểu rõ cũng như cách phòng tránh bệnh để có thể hạn chế tối đa nguy cơ mắc bệnh cho trẻ. Ảnh minh họa

Nhiễm khuẩn ở trẻ sơ sinh là một tình trạng thường xảy ra ở trẻ nhỏ, do đó các mẹ nên hiểu rõ cũng như cách phòng tránh bệnh để có thể hạn chế tối đa nguy cơ mắc bệnh cho trẻ. Ảnh minh họa

4.2. Các lưu ý khi chăm sóc trẻ nhiễm khuẩn trẻ sơ sinh

4.2.1. Tại bệnh viện

Đối với nhân viên y tế

Kiểm tra và theo dõi diễn biến của trẻ thường xuyên bao để cập nhật đầy đủ hồ sơ bệnh án thuận tiện cho điều trị bao gồm: Ngày giờ theo dõi, các dấu hiệu sinh tồn như nhịp thở, nhiệt độ, huyết áp, nhịp tim, theo dõi về tri giác...

Hô hấp: Đếm nhịp thở, quan sát kiểu thở. Nếu trẻ có biểu hiện có cơn ngừng thở cần báo bác sĩ sớm để có chỉ định kịp thời phục hồi sự hô hấp cho trẻ: Hoặc cho thở oxy, hoặc thở NCPAP, hoặc sử dụng thuốc... Kết hợp hút đàm nhớt nếu nếu trẻ có đờm trong đường thở gây cản trở hô hấp.

Nhiệt độ:

- Đo nhiệt độ thường xuyên, 6-8 giờ kiểm tra lại một lần.

- Duy trì nhiệt độ phòng tùy theo cân nặng và lứa tuổi của trẻ.

- Thay tã mỗi khi bé bị nôn trớ, tiểu tiện để đảm bảo vệ sinh, tránh hiện tượng ẩm ướt dễ làm trẻ bị sốt cao hơn.

- Cho bé nằm phòng thoáng, chườm ấm thường xuyên ở vùng trán và nách cho trẻ. Nếu trẻ sốt cao trên 38 độ cho dùng thuốc hạ sốt theo chỉ định của bác sĩ.

- Đặc biệt lưu ý với các trường hợp trẻ sinh non phải nằm lồng kính.

- Thực hiện cho bệnh nhi xét nghiệm hay dùng thuốc theo đúng y lệnh của bác sĩ với nguyên tắc 3 tra 5 đối.

- Thông báo kịp thời các diễn biến của bệnh nhi.

- Thực hiện nguyên tắc vô khuẩn khi tiếp xúc đặc biệt khi làm các thủ thuật với bệnh nhi.

- Sắp xếp các trẻ bị nhiễm khuẩn hay có nguy cơ lây nhiễm phải nằm phòng riêng để tránh lây truyền chéo.

Đối với các mẹ và người thân:

- Phối hợp cùng các nhân viên y tế theo dõi và chăm sóc trẻ.

- Không cho trẻ dùng chung đồ với các trẻ bị bệnh.

- Đảm bảo vệ sinh khi chăm sóc bé, đơn giản ngay cả trong việc cho trẻ bú mẹ.

- Cho trẻ bú mẹ nhiều lần trong ngày.

Với các trường hợp trẻ có chỉ định đặt sonde dạ dày: Chăm sóc cho trẻ ăn theo đúng hướng dẫn của các nhân viên y tế, theo dõi dấu hiệu bất thường ở trẻ như sặc, đau... và bất thường tại sonde.

Chăm sóc kỹ vùng rốn cho trẻ:

- Giữ rốn khô và sạch, tránh ẩm ướt.

-Vệ sinh rốn bằng bằng dung dịch sát khuẩn theo thứ tự từ chân rốn đến thân cuống rốn, kẹp rốn rồi đến mặt cắt cuống rốn.

- Nếu rốn có hiện tượng viêm mủ hôi, tấy đỏ vùng da xung quanh thì cần báo bác sĩ để có thể xử lý kịp thời, không tự ý cho trẻ dùng thuốc hay tự lấy mủ ra khỏi rốn.

- Tắm cho trẻ đúng cách, tắm bằng khăn mềm, nước ấm, tắm trong phòng có nhiệt độ từ 28-30 độ C, không tắm cho trẻ quá lâu, tắm từng phần cơ thể.

Bên cạnh các vấn đề vệ sinh chăm sóc cho trẻ thì mẹ và những người có tiếp xúc trực tiếp với trẻ cũng phải đảm bảo vệ sinh để tránh lây nhiễm bệnh cho trẻ.

4.2.2. Chăm sóc trẻ sau khi ra viện

- Hướng dẫn các bà mẹ về việc dùng thuốc tại nhà cho trẻ bị nhiễm khuẩn sơ sinh.

- Hướng dẫn các mẹ về việc đảm bảo vệ sinh cũng như chế độ dinh dưỡng phù hợp với trẻ.

- Nên đưa trẻ tiêm chủng đầy đủ và đúng thời gian theo quy định.

- Đưa bé tái khám đúng hẹn bác sĩ yêu cầu.

Sau khi xuất viện, nếu thấy bé có một trong các biểu hiện như: khó thở, sốt, co giật, tiêu chảy, viêm mủ dây rốn, bỏ bú... thì cho trẻ đi khám ngay.

Nhiễm khuẩn ở trẻ sơ sinh là một tình trạng thường xảy ra ở trẻ nhỏ do nhiều yếu tố. Do vậy, các mẹ nên hiểu rõ về bệnh cũng như cách phòng tránh bệnh để có thể hạn chế tối đa nguy cơ mắc bệnh cho trẻ.

Tin cùng chuyên mục

Can thiệp ECMO, cứu sống nam sinh viên bị tai nạn giao thông nguy kịch

Can thiệp ECMO, cứu sống nam sinh viên bị tai nạn giao thông nguy kịch

16:48 | 15/08/2022

Do tổn thương đa cơ quan, nam sinh viên phải trải qua 5 lần can thiệp phẫu thuật và chạy ECMO, thở máy và lọc máu liên tục mới giành được sự sống.

Quy trình siêu âm chẩn đoán bệnh được thực hiện như thế nào?

Quy trình siêu âm chẩn đoán bệnh được thực hiện như thế nào?

16:48 | 15/08/2022

Siêu âm được biết đến là kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh hiện đại được áp dụng phổ biến nhất để có thể phát hiện sớm bệnh lý, chẩn đoán chính xác và điều trị dễ dàng hơn. Vậy quy trình siêu âm được thực hiện như thế nào?

Nhiễm ký sinh trùng từ thói quen nhặt rau hàng ngày

Nhiễm ký sinh trùng từ thói quen nhặt rau hàng ngày

16:48 | 15/08/2022

Ký sinh trùng có thể đi theo mạch máu, ký sinh ở khắp mọi nơi như gan, phổi, não. Vào gan dễ gây áp xe gan, lên não có thể gây áp xe não, tổn thương não. Nếu không phát hiện kịp thời có thể gây nguy hiểm đến tính mạng.

Ảnh-Video-Emagazine

VIDEO: Ca nhiễm HIV đầu tiên trên thế giới được phát hiện vào năm nào?

VIDEO: Ca nhiễm HIV đầu tiên trên thế giới được phát hiện vào năm nào?

HIV là viết tắt của “Human immunodeficiency virus”, một loại virus tấn công hệ miễn dịch. Virus này truyền từ người sang người qua các dịch cơ thể như máu, tinh trùng, dịch âm đạo…