Làng 'nắn đất'

Song Hoàng 04/01/2026 09:02

Những chiếc nồi đất Trù Sơn được làm hoàn toàn thủ công, qua bàn tay khéo léo của người thợ bên chiếc bàn xoay, vài mảnh giẻ nhỏ và những khoanh nứa mỏng để định hình, vuốt nhẵn, cho thấy tinh tế của nghề xưa.

Làng 'nắn đất'- Ảnh 1.
Muốn ghé thăm làng nồi đất Trù Sơn (xã Bạch Hà, tỉnh Nghệ An), cách thị trấn Đô Lương (cũ) khoảng 20 km về phía đông nam, du khách có thể theo tuyến đường 15 đến Mỹ Sơn rồi vượt qua đỉnh Cồn Nem để vào làng.

Không ai còn nhớ chính xác nghề làm nồi đất ở Trù Sơn bắt đầu từ bao giờ. Chỉ biết rằng, trong trí nhớ của nhiều thế hệ, từ thuở các bậc cao niên còn 'tấm bé', hình ảnh ông bà, cha mẹ gánh đất về làng, ngồi bên bàn xoay nặn nồi, đỏ lửa suốt ngày đã trở nên quen thuộc như một phần đời sống.

Có thời điểm, trước sức ép của kinh tế thị trường, nghề làm nồi tưởng chừng rơi vào quên lãng khi sản phẩm làm ra khó tiêu thụ, thu nhập không đủ bù công sức. Thế nhưng, bằng sự bền bỉ giữ nghề, đến nay khi nhu cầu thị trường tăng trở lại, những lò nung ở Trù Sơn lại đỏ lửa, nhịp làm nồi rộn ràng hơn, nhất là mỗi độ giáp Tết.

Làng 'nắn đất'- Ảnh 2.
Trù Sơn là ngôi làng nồi đất độc nhất vô nhị, bởi đây là nơi duy nhất ở xứ Nghệ còn lưu giữ và làm ra những chiếc nồi đất truyền thống. Cũng vì lẽ đó, ngoài tên Trù Sơn, người dân và du khách quen gọi nơi này bằng cái tên mộc mạc, làng "Nồi Đất".

Ông Nguyễn Đình Thảo (xóm Trù Sơn, xã Bạch Hà) chia sẻ, làm nồi đất không quá phức tạp, nhưng để nồi bền, đẹp và không nứt vỡ khi nung lại đòi hỏi nhiều kinh nghiệm. "Đất phải đúng loại sét mịn, được ngâm đủ ngày, nhồi thật kỹ. Khi nung lò thì phải canh lửa cẩn thận. Già lửa nồi sẽ nứt, non lửa nồi không chín. Càng sát Tết, đơn hàng càng nhiều, lò phải đỏ lửa suốt ngày mới kịp giao", ông Thảo nói.

Theo ông Thảo, khâu quyết định chất lượng của mỗi mẻ nồi vẫn là công đoạn nung lò. Mỗi mẻ nung kéo dài khoảng 4 - 5 tiếng, thường bắt đầu từ trưa đến chiều tối, với số lượng từ 250 - 300 chiếc. Việc giữ lửa đều, điều chỉnh nhiệt độ hợp lý ảnh hưởng trực tiếp đến độ cứng, độ bền cũng như màu sắc của từng chiếc nồi.

Ông Nguyễn Công Minh, Trưởng phòng Văn hóa - Xã hội xã Bạch Hà, cho biết, nghề làm nồi đất Trù Sơn được công nhận là làng nghề từ năm 2020. Hiện toàn xã còn khoảng 20 hộ duy trì nghề truyền thống này.

"Địa phương đang từng bước xây dựng mô hình làng nghề gắn với du lịch cộng đồng, đồng thời đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số để quảng bá sản phẩm, giúp nghề nồi đất có thêm cơ hội phát triển bền vững", ông Minh nói.

Làng 'nắn đất'- Ảnh 4.
Đất sau khi mang về được người thợ nhồi kỹ, đặt lên bàn xoay để nặn nên dáng hình ban đầu của những chiếc nồi tròn trịa, cân đối. Qua đôi bàn tay khéo léo, từng chiếc nồi tiếp tục được gọt giũa cho thật trơn láng, phơi mình dưới nắng trời trước khi được đưa vào lò nung.
Làng 'nắn đất'- Ảnh 5.
Các sản phẩm của làng gốm Trù Sơn đều được làm bằng tay, đòi hỏi sự khéo léo và thuần thục trong từng công đoạn, trong đó phần lớn việc tạo hình và hoàn thiện sản phẩm do những người phụ nữ trong làng đảm nhiệm.
Làng 'nắn đất'- Ảnh 6.
Tất cả dụng cụ làm gốm chỉ với một chiếc bàn xoay, vài mảnh giẻ nhỏ và những khoanh nứa mỏng, vừa đủ để người thợ tạo dáng, vuốt nhẵn từng sản phẩm.
Làng 'nắn đất'- Ảnh 7.
Làng 'nắn đất'- Ảnh 8.
Làng 'nắn đất'- Ảnh 9.

Để có được nguồn đất phù hợp, người dân Trù Sơn phải lặn lội vượt quãng đường 7 - 10 km, khi thì xuống Nghi Văn (Nghi Lộc cũ), khi lại ngược lên Sơn Thành, Yên Thành (cũ) để lấy đất. Nhọc nhằn, cơ cực là thế, nên nghề làm nồi đất nơi đây được họ ví von nghề "bán xương, nuôi thịt".

Làng 'nắn đất'- Ảnh 10.
Để có một mẻ gốm đạt chất lượng, công đoạn then chốt nhất chính là nung lò. Muốn gốm "chín" đều, người thợ phải tinh tường trong việc xem lửa, canh nhiệt và dừng đúng thời điểm.
Làng 'nắn đất'- Ảnh 11.
Mỗi mẻ nung, khoảng 250 - 300 sản phẩm được xếp gọn trong lò hình tam giác xây bằng đá ong, bên ngoài phủ thêm một lớp rơm để giữ nhiệt. Gốm được đốt bằng lá thông liên tục trong 4 - 5 tiếng, đến khi đạt độ "chín" thì hoàn thành.
Làng 'nắn đất'- Ảnh 12.
Để làm nên một chiếc nồi đất hoàn chỉnh phải trải qua nhiều công đoạn công phu, tỉ mỉ, nhưng mỗi sản phẩm chỉ bán với giá từ 1.000 - 5.000 đồng. Dẫu vậy, bao đời nay, người dân Trù Sơn vẫn bền bỉ giữ nghề, coi đó là nguồn thu nhập thêm trong những lúc nông nhàn.
Làng 'nắn đất'- Ảnh 13.
Không cầu kỳ, tinh xảo như gốm sứ Bát Tràng hay Hội An vốn thường dùng để trưng bày, nghề "nắn đất" Trù Sơn mộc mạc, gắn bó với đời sống thường ngày qua những sản phẩm quen thuộc như nồi, siêu.
Làng 'nắn đất'- Ảnh 14.
Trải qua bao thế hệ, dù có những lúc thăng trầm, người thợ Trù Sơn vẫn bền bỉ gắn bó với đất, với nghề, âm thầm gìn giữ nét đẹp của làng nghề cổ lâu đời cho con cháu mai sau.

Song Hoàng