Làng 'nắn đất'
Những chiếc nồi đất Trù Sơn được làm hoàn toàn thủ công, qua bàn tay khéo léo của người thợ bên chiếc bàn xoay, vài mảnh giẻ nhỏ và những khoanh nứa mỏng để định hình, vuốt nhẵn, cho thấy tinh tế của nghề xưa.

Không ai còn nhớ chính xác nghề làm nồi đất ở Trù Sơn bắt đầu từ bao giờ. Chỉ biết rằng, trong trí nhớ của nhiều thế hệ, từ thuở các bậc cao niên còn 'tấm bé', hình ảnh ông bà, cha mẹ gánh đất về làng, ngồi bên bàn xoay nặn nồi, đỏ lửa suốt ngày đã trở nên quen thuộc như một phần đời sống.
Có thời điểm, trước sức ép của kinh tế thị trường, nghề làm nồi tưởng chừng rơi vào quên lãng khi sản phẩm làm ra khó tiêu thụ, thu nhập không đủ bù công sức. Thế nhưng, bằng sự bền bỉ giữ nghề, đến nay khi nhu cầu thị trường tăng trở lại, những lò nung ở Trù Sơn lại đỏ lửa, nhịp làm nồi rộn ràng hơn, nhất là mỗi độ giáp Tết.

Ông Nguyễn Đình Thảo (xóm Trù Sơn, xã Bạch Hà) chia sẻ, làm nồi đất không quá phức tạp, nhưng để nồi bền, đẹp và không nứt vỡ khi nung lại đòi hỏi nhiều kinh nghiệm. "Đất phải đúng loại sét mịn, được ngâm đủ ngày, nhồi thật kỹ. Khi nung lò thì phải canh lửa cẩn thận. Già lửa nồi sẽ nứt, non lửa nồi không chín. Càng sát Tết, đơn hàng càng nhiều, lò phải đỏ lửa suốt ngày mới kịp giao", ông Thảo nói.
Theo ông Thảo, khâu quyết định chất lượng của mỗi mẻ nồi vẫn là công đoạn nung lò. Mỗi mẻ nung kéo dài khoảng 4 - 5 tiếng, thường bắt đầu từ trưa đến chiều tối, với số lượng từ 250 - 300 chiếc. Việc giữ lửa đều, điều chỉnh nhiệt độ hợp lý ảnh hưởng trực tiếp đến độ cứng, độ bền cũng như màu sắc của từng chiếc nồi.
Ông Nguyễn Công Minh, Trưởng phòng Văn hóa - Xã hội xã Bạch Hà, cho biết, nghề làm nồi đất Trù Sơn được công nhận là làng nghề từ năm 2020. Hiện toàn xã còn khoảng 20 hộ duy trì nghề truyền thống này.
"Địa phương đang từng bước xây dựng mô hình làng nghề gắn với du lịch cộng đồng, đồng thời đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số để quảng bá sản phẩm, giúp nghề nồi đất có thêm cơ hội phát triển bền vững", ông Minh nói.






Để có được nguồn đất phù hợp, người dân Trù Sơn phải lặn lội vượt quãng đường 7 - 10 km, khi thì xuống Nghi Văn (Nghi Lộc cũ), khi lại ngược lên Sơn Thành, Yên Thành (cũ) để lấy đất. Nhọc nhằn, cơ cực là thế, nên nghề làm nồi đất nơi đây được họ ví von nghề "bán xương, nuôi thịt".




