Từ 1/7, muốn kinh doanh cảng hàng không phải có tối thiểu 100 tỷ đồng

Lê Bảo 16/06/2026 19:20

Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 205/2026/NĐ-CP quy định về cảng hàng không và bãi cất, hạ cánh, trong đó đưa ra hàng loạt điều kiện mới đối với hoạt động kinh doanh cảng hàng không và cung cấp dịch vụ hàng không tại sân bay có hiệu lực từ 1/7.

Đáp ứng các điều kiện chặt chẽ về vốn, nhân sự và năng lực

Theo Nghị định, doanh nghiệp muốn tham gia kinh doanh cảng hàng không phải đáp ứng các điều kiện chặt chẽ về vốn, nhân sự và năng lực bảo đảm an toàn, an ninh hàng không.

Cụ thể, mức vốn chủ sở hữu tối thiểu để thành lập và duy trì doanh nghiệp cảng hàng không là 100 tỷ đồng. Đồng thời, tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài không được vượt quá 30% vốn điều lệ doanh nghiệp, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên có quy định khác.

Bên cạnh yêu cầu về năng lực tài chính, doanh nghiệp phải có bộ máy tổ chức và nhân sự đáp ứng yêu cầu quản lý, khai thác cảng hàng không.

Từ 1/7, muốn kinh doanh cảng hàng không phải có tối thiểu 100 tỷ đồng- Ảnh 1.
Ảnh: VOV

Nghị định quy định giấy phép kinh doanh cảng hàng không được cấp cho doanh nghiệp để kinh doanh tại một hoặc nhiều cảng hàng không. Trường hợp thay đổi phạm vi hoạt động, doanh nghiệp phải thực hiện thủ tục sửa đổi, bổ sung giấy phép.

Đáng chú ý, Nghị định cũng quy định rõ các trường hợp bị hủy bỏ giấy phép kinh doanh cảng hàng không nhằm bảo đảm tính minh bạch và năng lực thực chất của doanh nghiệp.

Theo đó, doanh nghiệp sẽ bị thu hồi giấy phép nếu không duy trì mức vốn chủ sở hữu tối thiểu trong 2 năm liên tiếp; cung cấp thông tin không trung thực trong hồ sơ cấp phép; không được cấp Giấy chứng nhận cảng hàng không trong vòng 12 tháng kể từ ngày được cấp giấy phép kinh doanh hoặc không khắc phục các vi phạm về điều kiện kinh doanh theo yêu cầu của cơ quan quản lý.

Kinh doanh dịch vụ hàng không phải đáp ứng loạt tiêu chuẩn an toàn, an ninh

Bên cạnh hoạt động khai thác cảng hàng không, Nghị định 205/2026/NĐ-CP cũng đặt ra các điều kiện cụ thể đối với doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ hàng không tại sân bay.

Theo quy định, doanh nghiệp phải có đội ngũ nhân viên hàng không được đào tạo, huấn luyện và cấp chứng chỉ phù hợp với từng loại hình dịch vụ. Người phụ trách công tác an toàn hàng không phải có chứng chỉ quản lý an toàn hàng không và tối thiểu 5 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực này.

Ngoài yếu tố nhân sự, doanh nghiệp phải sở hữu hoặc có phương án bảo đảm cơ sở hạ tầng, phương tiện, trang thiết bị phục vụ hoạt động kinh doanh; đồng thời xây dựng đầy đủ hệ thống tài liệu về an toàn hàng không, an ninh hàng không, phòng cháy chữa cháy, bảo vệ môi trường và ứng phó khẩn nguy.

Các tài liệu bắt buộc bao gồm hệ thống quản lý an toàn; phương án ứng phó khẩn nguy; quy trình phòng chống dịch bệnh; chương trình an ninh hàng không được phê duyệt; quy trình cung cấp dịch vụ và xử lý tình huống bất thường; phương án dự phòng nhân lực, phương tiện, trang thiết bị; cũng như phương án chữa cháy, cứu nạn cứu hộ và hồ sơ bảo vệ môi trường.

Về năng lực tài chính, doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ khai thác nhà ga hành khách, nhà ga hàng hóa hoặc dịch vụ xăng dầu hàng không phải có vốn chủ sở hữu tối thiểu 30 tỷ đồng. Đối với một số loại hình dịch vụ trọng yếu như khai thác nhà ga hành khách, kho hàng hóa hay phục vụ kỹ thuật thương mại mặt đất, tỷ lệ sở hữu nước ngoài cũng không được vượt quá 30% vốn điều lệ, trừ trường hợp điều ước quốc tế có quy định khác.

Riêng các doanh nghiệp cảng hàng không trực tiếp kinh doanh dịch vụ hàng không tại sân bay sẽ không phải áp dụng điều kiện về mức vốn chủ sở hữu tối thiểu nêu trên.

Lê Bảo